Tài Chính

Học Nhanh Công Thức Tính Lãi Suất Theo Tháng Đúng Cách, Công Thức Tính Lãi Suất

Cách tính lãi suất ngân hàng theo kỳ hạn, tháng, năm như thế nào để mang lại lợi nhuận lớn. Bài viết sau giới thiệu 7 công thức tính lãi suất thường gặp trong ngân hàng.

Đang xem: Công thức tính lãi suất theo tháng

Tham khảo thêm các bài viết khác cùng chủ đề:

+ Các loại rủi ro trong Ngân hàng thương mại

+ Phân biệt cổ phiếu và trái phiếu của Công ty cổ phần

*

Lãi suất là gì và 7 công thức tính lãi suất thường gặp trong ngân hàng

Mục lục <Ẩn> 

2. Phân loại lãi suất.4. Nguyên tắc hình thành lãi suất.5. Một số quan điểm hình thành chính sách lãi suất.6. 7 công thức tính lãi suất thường gặp trong ngân hàng7. Một số cách tính lãi đơn lãi kép và các dòng tiền khác trong ngân hàng:

1. Khái niệm lãi suất

Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô được quan tâm và theo dõi chặt chẽ. Trong kinh doanh, hiện tượng thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra đối với các chủ thể kinh tế. Với tư cách trung gian tài chính, hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng ra đời thu hút mọi khoản tiền nhàn rỗi, cung ứng cho nền kinh tế dưới nhiều hình thức, đẩy mạnh quá trình vận động, luân chuyển của đồng tiền, góp phần điều hoà và phân bổ hợp lý nguồn vốn trong nền kinh tế.

Khi nghiên cứu về tư bản, Mác đã kết luận: Lãi suất cũng là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê và bị bọn tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt. Vì thế, lãi suất là giá cả của một số tiền vay.

Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes lại cho rằng: Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản “. Lãi suất do đó còn được gọi là công trả cho sự chia li với của cải tiền tệ.

Còn Samuelson, đại diện cho trường phái trọng tiền đứng trên giác độ chi phí, coi lãi suất là chi phí cơ hội của việc giữ tiền.

Cho dù lãi suất được hiểu theo khái niệm nào thì về bản chất, lãi suất là tỷ lệ % của phần tăng thêm so với phần vốn vay ban đầu, là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ thuê viết luận văn thạc sĩ , Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline?

Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

2. Phân loại lãi suất.

2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có 3 loại.

– Lãi suất tín dụng ngắn hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng có thời hạn dưới 1 năm.

– Lãi suất tín dụng trung hạn: áp dụng với các khoản tín dụng có thời hạn từ 1 năm tới 3 hoặc 5 năm, tuỳ theo quy định của từng nước.

– Lãi suất tín dụng dài hạn: áp dụng với các khoản tín dụng dài hạn, thời hạn trên 5 năm.

2.2. Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất.

– Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ tại thời điểm nghiên cứu.

– Lãi suất thực: là lãi suất đã được điều chỉnh theo những biến đổi của lạm phát.

Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi vì lạm phát nên lãi suất thực phản ánh một cách chính xác chi phí của quan hệ tín dụng.

2.3. Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất.

– Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay.

– Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi lên xuống, có thể báo trước hoặc không báo trước.

2.4. Căn cứ vào phương pháp tính.

– Lãi suất đơn: là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ hạn vay.

Xem thêm: Biểu Hiện Không Có Tim Thai, TẠI Sao Phã”I Thai Khã”Ng C㓠Tim Thai

 

*

 Lãi suất đơn

Hình thức lãi suất này thường áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn và việc trả nợ được thực hiện một lần khi đến hạn.

– Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong khoảng thời gian sử dụng tiền vay

 

*

 Lãi suất kép

– Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất cân bằng giá trị hiện tại của tiền thu nhập nhận được trong tương lai theo một công cụ nợ với giá trị hôm này của công cụ đó.

2.5. Căn cứ vào loại hình tín dụng : Lãi suất được chia làm 4 loại.

– Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng trong quan hệ mua bán chịu giữa các doanh nghiệp

Lstdtm = (Giá của hàng hoá bán chịu – giá cả hàng hoá bán trả ngay)/ Giá cả hàng hoá bán chịu

– Lãi suất tín dụng ngân hàng: áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay trong hoạt động tái cấp vốn của NHTW đối với các NHTM và trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng.

Trong khái niệm lãi suất tín dụng ngân hàng người ta phân biệt:

+ Lãi suất tiền gửi

+ Lãi suất chiết khấu

+ Lãi suất tái chiết khấu

+ Lãi suất liên ngân hàng

+ Lãi suất cơ bản

-Lãi suất tín dụng nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu. Loại lãi suất này có thể do Nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, và các yếu tố khác như sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Nhà nước.

-Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho người tiêu dùng vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Mức lãi suất tín dụng tiêu dùng này thường cao hơn lãi suất tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng Nhà nước.

3. Vai trò của lãi suất trong cơ chế thị trường.

Lãi suất có vai trò và ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển và ổn định kinh tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Vì thế, việc hoạch định chính sách lãi suất phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảo lãi suất thoả mãn các yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra.

Trong nền kinh tế thị trường, người đi vay cũng như người cho vay có thể là các doanh nghiệp, các cá nhân, hộ gia đình, chính phủ hoặc người nước ngoài. Đối với người đi vay, lãi suất tạo nên chi phí, làm giảm lợi nhuận của người vay. Còn với người cho vay, lãi suất chính là thu nhập của họ. Vì thế lãi suất đóng vai trò to lớn trong các quyết định của các chủ thể kinh tế. Thông qua những quyết định của các chủ thể kinh tế, lãi suất ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như cơ cấu kinh tế của một quốc gia.

Trước hết, lãi suất là công cụ được sử dụng nhằm phân phối hiệu quả và hợp lý các nguồn lực trong nền kinh tế. Bởi lãi suất chính là phần thu nhập cho những khoản tiền tiết kiệm hoặc cho vay để đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Khi đầu tư vào một ngành hoặc một dự án nào đó, chúng ta đều phải quan tâm đến lợi tức thu được so với chi phí ban đầu , làm sao để thu được lợi nhuận. Có thể nói lãi suất là tín hiệu, là căn cứ cho sự phân bố hiệu quả các nguồn lực khan hiếm trong xã hội. Thông qua lãi suất, các doanh nghiệp và các cá nhân, các tác nhân trong nền kinh tế có thể đưa ra những phương án đầu tư tối ưu nhất.

ở góc độ vĩ mô, lãi suất trở thành công cụ điều tiết nền kinh tế. Lãi suất thị trường do quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ ấn định. Đến lượt nó, lãi suất tác động trở lại đối với hành vi tiêu dùng, đầu tư, từ đó tác động lên tổng cầu.

Khi cung tiền tệ tăng lên, lãi suất cân bằng trong vĩ mô giảm xuống, giá trái phiếu tăng lên do giá trị hiện tại của thu nhập tương lai có giá trị hơn gây ra hiệu ứng của cải và làm dịch chuyển hàm tiêu dùng lên trên. Tiêu dùng sẽ tăng ở mỗi mức thu nhập. Tín dụng tiêu dùng tăng lên do khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay tín dụng tăng lên.

Đầu tư, kể cả đầu tư bản và vốn cố định vốn luân chuyển hàng tồn kho đều có mối liên hệ mật thiết tới lãi suất. Khi giá của tư liệu sản xuất cho một dự án tăng, nghĩa là lợi nhuận dự tính giảm xuống, đầu tư giảm xuống và ngược lại.

Như vậy có thể nói một sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động tới các yếu tố của tổng cầu, thông qua đó động tổng cầu và các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng khác.

Trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãi suất có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay tăng. Ngược lại, giai đoạn suy thoái, lãi suất có xu hướng giảm xuống.

Rõ ràng chính sách lãi suất phù hợp là cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.

4. Nguyên tắc hình thành lãi suất.

4.1. Nguyên tắc bảo toàn vốn.

Lãi suất được coi là giá cả của quyền sử dụng vốn trong một thời hạn nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Nếu như lãi suất đối với người đi vay là một khoản chi phí thì lãi suất tạo nên thu nhập đối với người cho vay. Tuy nhiên, trong nền kinh tế, người vay. Lợi ích thực tế mà người cho vay được hưởng là lãi suất thực. Nghiên cứu và tìm hiểu về lãi suất, nhà Kinh tế học I.Fisher đã chỉ ra được mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát.

*

 Nguyên tắc bảo toàn vốn

Vì thế bảo toàn vốn là nguyên tắc đầu tiên khi hình thành lãi suất nhằm bảo đảm quyền lợi của người cho vay. Có nghĩa lãi suất danh nghĩa phải ít nhất bằng tỷ lệ lạm phát dự tính. Sự bảo đảm này cho phép người cho vay có thể bù đắp được sự biến động rủi ro về giá mà lạm phát gây ra, bảo toàn vốn kinh doanh cho vay.

Xem thêm: Lãi Suất Tiền Gửi Tiết Kiệm Sacombank Tháng 8/2021, Tiết Kiệm Có Kỳ Hạn Ngày

4.2. Nguyên tắc bảo đảm tỷ lệ khuyến khích về thu nhập hợp lý cho người gửi tiền và các tổ chức tín dụng.

Khi đem tiền cho vay, người cho vay không chỉ kỳ vọng khoản vốn của mình được bảo toàn mà còn phải sinh lời. Phần thực tế mà người cho vay được hưởng này là lãi suất thực. Nguyên tắc này đòi hỏi ir > 0. Điều này chính là lãi suất danh nghĩa mà người cho vay nhận được phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Việc đảm bảo có lãi là hợp lý vì nó phù hợp lợi ích người gửi tiền. Đối với người gửi tiền lãi suất thực là thu nhập, là sự trả công cho họ cho sự tạm xa rời của cải của họ. Đối với các tổ chức tín dụng cho vay, lãi suất thực này đảm bảo lợi tích cho người gửi tiền, trang trải các chi phí nghiệp vụ, bù đắp những rủi ro trong hoạt động tín dụng thương mại và lợi nhuận ngân hàng. Do đó:Lạm phát thuế thu nhập cá nhân và cách tính thuế thu nhập cá nhân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button